100 số điện hết 217.836 đồng, đã bao gồm VAT 8%, nếu một hộ gia đình sử dụng tổng cộng 100kWh điện sinh hoạt trong kỳ ghi chỉ số thông thường theo biểu giá tại Quyết định 1279/QĐ-BCT. Trong đó, 50 số đầu được tính 1.984 đồng/kWh, 50 số tiếp theo tính 2.050 đồng/kWh, tổng tiền trước thuế là 201.700 đồng. Số tiền thực trả có thể khác nếu gia đình dùng chung công tơ, thuê trọ hoặc kỳ ghi chỉ số có điều chỉnh. Bài viết của Lịch Cúp Điện sẽ giúp bà con hiểu rõ cách tính từng khoản, xác định những yếu tố ảnh hưởng đến hóa đơn và biết cách đối chiếu số tiền trước khi thanh toán.
100 số điện bao nhiêu tiền, đã gồm thuế chưa?
100 số điện hết 217.836 đồng, đã bao gồm thuế VAT 8%, nếu một hộ gia đình sử dụng tổng cộng 100kWh điện sinh hoạt trong kỳ ghi chỉ số thông thường. Trong đó, tiền điện trước thuế là 201.700 đồng và thuế VAT là 16.136 đồng.

Một hộ gia đình sử dụng đúng 100 kWh điện sinh hoạt theo định mức thông thường cần trả 217.836 đồng, gồm 201.700 đồng tiền điện và 16.136 đồng thuế VAT.
Đây là số tiền tính theo biểu giá điện sinh hoạt tại Quyết định 1279/QĐ-BCT của Bộ Công Thương, có hiệu lực từ ngày 10/5/2025. Tại thời điểm kiểm tra ngày 14/10/2026, chuyên mục giá điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) vẫn niêm yết biểu giá này.
Như vậy, nếu đang thắc mắc 100 số điện bao nhiêu tiền, gia đình bạn có thể dự trù khoảng 218.000 đồng cho một kỳ sử dụng đúng 100kWh. Tuy nhiên, con số 217.836 đồng mới là kết quả của một trường hợp cụ thể, không phải mức thu cố định cho mọi khách hàng.
Điều kiện quan trọng nhất là toàn bộ 100 số phải được tính theo định mức điện sinh hoạt của một hộ thông thường. Nếu dùng chung công tơ với nhiều hộ được công nhận định mức, thuê nhà theo hợp đồng có cách áp giá khác hoặc kỳ ghi chỉ số phát sinh điều chỉnh, tiền điện thực tế có thể thay đổi.
Trong cách tính này, 100 số điện tương đương 100kWh điện năng tiêu thụ. Đây là lượng điện gia đình đã sử dụng trong cả kỳ thanh toán, không phải công suất của thiết bị hay số tiền được tính theo một đơn giá duy nhất.
Nói đơn giản, nếu trên hóa đơn ghi sản lượng điện tiêu thụ là 100kWh, nhà mình cần xác định hai thông tin trước khi tính tiền. Thứ nhất là loại giá điện đang áp dụng. Thứ hai là định mức của từng bậc giá trong kỳ ghi chỉ số. Để xác định đúng đơn giá, gia đình có thể đối chiếu giá điện sinh hoạt hiện nay và cách tính trước khi phân chia sản lượng điện vào từng bậc.
Với một hộ dùng điện sinh hoạt thông thường, 100 số đầu được chia thành hai phần bằng nhau. Mỗi phần áp dụng một mức giá khác nhau. Cộng tiền của cả hai phần rồi tính thuế VAT sẽ ra tổng thanh toán.
Điểm dễ nhầm là giá điện 100 số không được xác định bằng cách lấy toàn bộ 100kWh nhân với giá của bậc cao nhất đã sử dụng. Cách làm đó khiến số tiền dự tính lớn hơn mức thực tế trong trường hợp áp dụng đúng định mức thông thường.
Trên raovatvietnamdaily.com, những thông tin về điện sinh hoạt được trình bày theo hướng gần gũi với nhu cầu hằng ngày. Riêng với mức tiêu thụ 100 số, điều quan trọng là tính đúng từng khoản tiền để gia đình chủ động dự trù chi phí.
Cũng cần phân biệt tiền điện của cả kỳ chỉ sử dụng 100kWh với khoản tiền phát sinh khi dùng thêm 100kWh. Hai trường hợp này có thể cho kết quả khác nhau dù lượng điện được nhắc đến đều là 100 số.
Cách tính tiền điện 100 số theo hai bậc giá
Cách tính tiền điện 100 số dựa trên nguyên tắc chia sản lượng điện theo từng bậc, sau đó cộng số tiền tương ứng. Với một hộ gia đình sử dụng 100kWh trong kỳ thông thường, chỉ cần áp dụng hai bậc giá đầu tiên.

50 số điện đầu tiên có giá 99.200 đồng, 50 số tiếp theo có giá 102.500 đồng, cộng lại thành 201.700 đồng trước thuế.
Biểu giá theo Quyết định 1279/QĐ-BCT quy định 50kWh đầu có đơn giá 1.984 đồng/kWh. Phần 50kWh tiếp theo được tính 2.050 đồng/kWh. Cả hai đơn giá này đều chưa bao gồm thuế VAT. Với những gia đình sử dụng nhiều hơn 100kWh, việc tham khảo các bậc giá điện sinh hoạt và cách tính tiền theo từng mức sẽ giúp xác định chính xác phần sản lượng thuộc mỗi bậc thay vì áp dụng một đơn giá cho toàn bộ số điện đã dùng.
Chia 50 số đầu và 50 số tiếp theo như thế nào
Giả sử gia đình bạn sử dụng đúng 100 số điện trong một kỳ thanh toán và thuộc đối tượng áp dụng giá bán lẻ điện sinh hoạt thông thường. Để tính số tiền phải trả, trước tiên cần tách sản lượng thành hai phần.
50 số điện đầu tiên thuộc bậc 1, được nhân với đơn giá 1.984 đồng/kWh. Số tiền tương ứng là:
50 × 1.984 = 99.200 đồng.
Sau khi tính hết 50 số đầu, gia đình còn 50 số điện thuộc bậc 2. Phần này áp dụng đơn giá 2.050 đồng/kWh, cho kết quả:
50 × 2.050 = 102.500 đồng.
Cộng hai khoản tiền vừa tính, tổng chi phí sử dụng điện trước thuế là:
99.200 + 102.500 = 201.700 đồng.
Đây là điểm cần nhớ khi tính tiền điện theo sản lượng. Dù gia đình đã sử dụng đến bậc 2, phần điện thuộc bậc 1 vẫn giữ nguyên đơn giá của bậc 1. Chỉ những kWh nằm trong khoảng tiếp theo mới chịu mức giá cao hơn.
Vì thế, phép tính 100 × 2.050 = 205.000 đồng không phản ánh đúng số tiền điện trước thuế của một hộ dùng tổng cộng 100kWh theo định mức thông thường.
Việc tách từng phần còn giúp gia đình hiểu rõ tại sao số điện tăng thêm có thể khiến hóa đơn tăng nhanh hơn. Khi sản lượng sử dụng vượt khỏi một khoảng định mức, những kWh tiếp theo sẽ chuyển sang mức giá tương ứng.
Đối với kỳ điện chỉ tiêu thụ 100 số, phép tính tương đối đơn giản vì chưa phải sử dụng các bậc cao hơn. Tuy nhiên, điều này chỉ đúng khi định mức của một hộ trong kỳ ghi chỉ số được giữ theo mức thông thường.
Bảng tính 100 số điện trước và sau VAT
Sau khi có tiền điện của hai bậc, bước tiếp theo là tính thuế giá trị gia tăng. Trong thời gian áp dụng chính sách giảm thuế theo Nghị định 174/2025/NĐ-CP, thuế VAT đối với điện sinh hoạt thuộc diện áp dụng là 8%.
Khoản thuế được tính trên tổng tiền điện trước thuế, không tính riêng một mức thuế khác cho từng bậc giá.
| Khoản tính | Sản lượng | Đơn giá hoặc thuế suất | Phép tính | Thành tiền |
|---|---|---|---|---|
| Bậc 1 | 50kWh | 1.984 đồng/kWh | 50 × 1.984 | 99.200 đồng |
| Bậc 2 | 50kWh | 2.050 đồng/kWh | 50 × 2.050 | 102.500 đồng |
| Tổng trước VAT | 100kWh | Theo hai bậc giá | 99.200 + 102.500 | 201.700 đồng |
| Thuế VAT | Tiền trước thuế | 8% | 201.700 × 8% | 16.136 đồng |
| Tổng thanh toán | 100kWh | Đã gồm VAT | 201.700 + 16.136 | 217.836 đồng |
Nhìn vào bảng, có thể thấy tiền điện của bậc 2 cao hơn bậc 1 dù cùng sử dụng 50kWh. Nguyên nhân là đơn giá bậc 2 lớn hơn đơn giá bậc 1, không phải vì có thêm một khoản phụ thu riêng.
Thuế VAT 16.136 đồng được cộng sau khi hoàn thành phép tính tiền điện. Nhờ vậy, gia đình có thể phân biệt rõ số tiền do tiêu thụ điện và khoản thuế xuất hiện trên hóa đơn.
Nếu cần tự tính, bạn chỉ việc xác định đúng lượng điện thuộc từng bậc, nhân với đơn giá tương ứng rồi cộng lại. Sau đó áp dụng thuế suất của thời điểm thanh toán theo quy định.
Riêng với trường hợp đang xét, kết quả trước thuế phải là 201.700 đồng. Khi cộng VAT 8%, tổng tiền tăng lên 217.836 đồng. Nếu tính ra con số khác, nên rà lại việc phân chia 50 số đầu và 50 số tiếp theo trước khi kiểm tra các yếu tố khác.
Cần lưu ý rằng 217.836 đồng là tiền của toàn bộ 100kWh theo điều kiện nêu trên. Không nên sử dụng kết quả này để mặc định tính tiền cho hợp đồng điện kinh doanh, công tơ trả trước hoặc các trường hợp có định mức đặc biệt.
Khi nào tiền điện 100 số khác 217.836 đồng
Cùng sử dụng 100kWh nhưng không phải hóa đơn nào cũng có tổng tiền giống nhau. Nguyên nhân có thể đến từ thuế VAT, thời điểm áp dụng giá, định mức sử dụng điện hoặc đối tượng được ghi trên hợp đồng.

Tiền điện thực tế có thể khác mức 217.836 đồng khi nhiều hộ dùng chung công tơ, áp dụng cách tính giá cho người thuê nhà hoặc điều chỉnh định mức theo kỳ ghi chỉ số.
Để xác định khoản chênh lệch có hợp lý không, gia đình cần xem điều kiện tính tiền thực tế thay vì chỉ so sánh tổng số kWh.
VAT và thời điểm áp dụng giá ảnh hưởng thế nào
Trong ví dụ trên, thuế VAT được tính bằng 8% tổng tiền điện trước thuế. Đây là mức thuế áp dụng theo chính sách giảm thuế tại Nghị định 174/2025/NĐ-CP, có thời hạn từ ngày 1/7/2025 đến hết ngày 31/12/2026 đối với hàng hóa, dịch vụ đủ điều kiện.
Với 100 số điện sinh hoạt có tiền trước thuế 201.700 đồng, VAT 8% tương ứng 16.136 đồng. Nếu chính sách thuế thay đổi trong tương lai, số tiền thanh toán cũng phải tính lại theo thuế suất áp dụng khi đó.
Vì vậy, bạn không nên mặc định mọi hóa đơn trước hoặc sau khoảng thời gian trên đều sử dụng mức VAT 8%. Khi đối chiếu một hóa đơn cũ, cần xem thuế suất thực tế được ghi trên chứng từ.
Yếu tố tiếp theo là thời điểm điều chỉnh giá bán điện. Nếu kỳ sử dụng nằm trọn trong thời gian áp dụng một biểu giá, việc tính tiền thường dễ đối chiếu hơn.
Ngược lại, khi kỳ ghi chỉ số trải qua ngày thay đổi giá, sản lượng có thể được phân bổ theo khoảng thời gian áp dụng giá cũ và giá mới. EVN cũng hướng dẫn điều chỉnh định mức tương ứng trong trường hợp này.
Do đó, một hóa đơn ghi đúng 100kWh vẫn có thể khác kết quả 217.836 đồng nếu lượng điện được tính theo nhiều thời điểm áp giá.
Thông tin về Giá Điện Sinh Hoạt Hiện Nay giúp xác định đơn giá được công bố, nhưng khi tính hóa đơn thực tế vẫn cần căn cứ vào thời gian sử dụng điện và đối tượng áp giá.
Ngày ghi chỉ số cũng đáng chú ý. Khi lịch ghi thay đổi, định mức của các bậc có thể được điều chỉnh theo số ngày thực tế. Điều này khiến cách phân bổ 100kWh không còn nhất thiết là 50kWh ở bậc 1 và 50kWh ở bậc 2.
Chẳng hạn, nếu kỳ ghi chỉ số được điều chỉnh so với chu kỳ thông thường, việc lấy nguyên định mức của một kỳ bình thường để tính lại có thể không khớp hóa đơn.
Trong những trường hợp như vậy, điều cần kiểm tra không chỉ là tổng số điện đã sử dụng mà còn là khoảng thời gian được tính tiền. Đây là căn cứ để hiểu vì sao mức thanh toán thay đổi dù sản lượng vẫn giữ nguyên.
Dùng chung công tơ hoặc thuê trọ có tính giống một hộ không
Tiền điện 100 số khi dùng chung công tơ có thể khác với một hộ sử dụng riêng. Điểm quyết định là số hộ được đơn vị điện lực công nhận để xác định định mức, không đơn thuần là số người đang sinh sống trong nhà.
Ví dụ, hai hộ gia đình cùng sử dụng một công tơ và được công nhận hai định mức sinh hoạt. Khi đó, định mức của các bậc được tính tương ứng với số hộ.
Nếu tổng sản lượng trong kỳ là 100kWh, toàn bộ lượng điện này nằm trong phạm vi bậc 1 của hai hộ. Với đơn giá 1.984 đồng/kWh, tiền điện trước thuế được tính như sau:
100 × 1.984 = 198.400 đồng.
Cộng thuế VAT 8%, tổng tiền thanh toán là 214.272 đồng. So với 217.836 đồng của một hộ thông thường, khoản tiền này thấp hơn do cách xác định định mức khác nhau.
Tuy nhiên, kết quả 214.272 đồng chỉ áp dụng khi hai hộ thực sự được công nhận định mức tương ứng. Nếu nhiều gia đình cùng ở nhưng hợp đồng điện không được xác định theo số hộ đó, không thể tự nhân định mức để tính tiền.
Đối với người thuê trọ, cách tính còn phụ thuộc vào điều kiện thuê nhà và việc kê khai người sử dụng điện.
Theo hướng dẫn của EVN, khi chủ nhà kê khai đầy đủ người thuê theo quy định, cứ bốn người được tính tương đương một hộ để xác định định mức điện sinh hoạt.
Với trường hợp thuê dưới 12 tháng, chủ nhà không kê khai đầy đủ số người sử dụng điện và thuộc diện áp dụng giá bậc 3 cho toàn bộ sản lượng, cách tính sẽ khác.
Đơn giá bậc 3 theo Quyết định 1279/QĐ-BCT là 2.380 đồng/kWh. Nếu toàn bộ 100kWh thuộc trường hợp này, tiền điện được tính:
100 × 2.380 × 1,08 = 257.040 đồng.
Như vậy, cùng 100 số điện nhưng một hộ thông thường trả 217.836 đồng, hai hộ được công nhận định mức có thể trả 214.272 đồng, còn trường hợp thuê trọ nêu trên là 257.040 đồng.
Ba con số này không phải ba mức giá tùy chọn. Chúng phản ánh những điều kiện áp dụng khác nhau. Vì thế, không thể kết luận hóa đơn tính sai chỉ vì khoản thanh toán cao hoặc thấp hơn ví dụ của một hộ gia đình.
Với người thuê nhà, điều quan trọng là xác định chủ nhà đang thu tiền theo hợp đồng điện và phương án áp giá nào. Không nên mặc định mọi phòng trọ đều phải trả theo giá bậc 3.
Tổng tiêu thụ 100 số có giống dùng thêm 100 số không
Một nhầm lẫn khá phổ biến là cho rằng cứ sử dụng 100kWh thì tiền điện đều bằng 217.836 đồng. Thực tế, cần phân biệt tổng lượng điện 100 số với 100 số điện dùng thêm.
Nếu cả kỳ gia đình chỉ sử dụng 100kWh, sản lượng được chia vào hai bậc đầu theo định mức thông thường. Đây chính là trường hợp đã tính ở phần trên.
Nhưng nếu gia đình đã sử dụng một lượng điện nhất định rồi tiếp tục tiêu thụ thêm 100kWh trong cùng kỳ, phần điện tăng thêm phải được tính theo những bậc tương ứng với tổng sản lượng mới.
Chẳng hạn, nhà mình đã dùng 100 số và sau đó sử dụng thêm 100 số nữa. Phần điện phát sinh không được tính lại từ bậc 1 như một kỳ sử dụng mới. Những kWh tiếp theo sẽ được phân bổ vào các bậc cao hơn theo định mức áp dụng.
Điều này giải thích vì sao tiền điện tăng thêm đôi khi lớn hơn khoản chi phí dự tính dựa trên 100 số đầu tiên.
Một điểm cần nhớ là giá điện sinh hoạt được áp dụng theo sản lượng cộng dồn trong kỳ thanh toán. Bậc giá của phần sử dụng thêm phụ thuộc vào lượng điện đã tiêu thụ trước đó.
Vì vậy, nếu muốn biết chi phí tăng thêm khi sử dụng thiết bị điện nhiều hơn, gia đình cần căn cứ vào tổng sản lượng dự kiến của cả kỳ. Không nên lấy số tiền 217.836 đồng làm giá cố định cho mọi 100kWh phát sinh.
Nắng nóng cũng là nguyên nhân khiến hóa đơn tăng do quạt, máy lạnh hoặc các thiết bị làm mát hoạt động nhiều hơn. Khi lượng điện sử dụng tăng, sản lượng có thể chuyển sang những bậc giá cao hơn.
Tuy nhiên, thời tiết nóng không làm thay đổi đơn giá áp dụng cho cùng một lượng điện thuộc cùng bậc. Khoản tiền tăng chủ yếu xuất phát từ số kWh tiêu thụ nhiều hơn và sự phân bổ sản lượng vào các bậc tương ứng.
Cần đối chiếu gì khi hóa đơn ghi 100 số điện
Nếu hóa đơn ghi 100kWh điện tiêu thụ nhưng tổng thanh toán không phải 217.836 đồng, gia đình nên kiểm tra những thông tin cơ bản trước khi cho rằng có sai sót.

Khi hóa đơn ghi tiêu thụ 100 kWh, cần đối chiếu chỉ số đầu kỳ và cuối kỳ, loại giá điện, định mức từng bậc, tiền trước thuế và thuế VAT.
Trước hết, cần xác định hóa đơn có thực sự ghi tổng sản lượng là 100kWh hay không. Đây phải là lượng điện được tính trong kỳ thanh toán, không phải số liệu ước tính từ mức sử dụng của từng thiết bị.
Tiếp theo, hãy nhìn vào phần đơn giá và tiền điện trước thuế. Với một hộ sử dụng điện sinh hoạt thông thường, kỳ ghi chỉ số bình thường và áp dụng biểu giá đã nêu, tổng tiền trước thuế của 100kWh là 201.700 đồng.
Nếu khoản này khác đáng kể, bạn cần xem lại nhóm giá điện, số hộ được công nhận định mức và thời điểm áp giá. Đây đều là những yếu tố có thể khiến tiền điện khác nhau dù số kWh giống nhau.
Để việc đối chiếu rõ ràng hơn, gia đình có thể tập trung vào các thông tin sau:
- Sản lượng tiêu thụ: Kiểm tra tổng lượng điện được tính trong kỳ có đúng 100kWh hay không.
- Kỳ ghi chỉ số: Xác định khoảng thời gian sử dụng điện và xem kỳ này có thay đổi lịch ghi chỉ số không.
- Đối tượng áp giá: Kiểm tra hợp đồng thuộc nhóm điện sinh hoạt thông thường hay trường hợp có phương án tính khác.
- Định mức áp dụng: Xem sản lượng có được chia theo định mức của một hộ hoặc nhiều hộ được công nhận hay không.
- Tiền trước thuế và VAT: So sánh từng khoản với phép tính tương ứng và kiểm tra thuế suất trên hóa đơn.
- Tổng thanh toán: Đối chiếu số tiền cuối cùng sau khi cộng thuế với các khoản được thể hiện trên chứng từ.
Trong trường hợp mọi thông tin đều khớp với điều kiện tính tiền thông thường, gia đình có thể sử dụng kết quả 217.836 đồng làm căn cứ so sánh.
Nếu chỉ số, định mức hoặc thời gian áp giá khác với ví dụ, cần tính lại theo dữ liệu thực tế. Việc so sánh với một con số chung lúc này không đủ để xác định hóa đơn đúng hay sai.
Đặc biệt, không nên bỏ qua ngày ghi chỉ số. Một kỳ điện không nhất thiết bắt đầu vào ngày đầu tiên và kết thúc vào ngày cuối cùng của tháng dương lịch. Lịch ghi được xác định theo thông tin của đơn vị điện lực và mã khách hàng. Nếu chưa rõ tiền điện được tính từ ngày nào đến ngày nào, gia đình nên kiểm tra ngày chốt chỉ số đầu kỳ và cuối kỳ để xác định đúng khoảng thời gian sử dụng điện trên hóa đơn.
Nếu kỳ ghi chỉ số thay đổi, định mức các bậc có thể được tính lại theo số ngày thực tế. Vì vậy, hóa đơn 100kWh không phải lúc nào cũng phân bổ đúng 50kWh ở bậc đầu và 50kWh ở bậc tiếp theo.
Đối với gia đình đang thuê nhà hoặc dùng chung công tơ, nên kiểm tra thêm phương án phân bổ sản lượng đã được áp dụng. Số người sinh sống, số hộ được công nhận và điều kiện hợp đồng có thể ảnh hưởng đến cách tính tiền.
Một lưu ý khác là không nên chỉ nhìn vào tổng tiền phải trả rồi suy ngược ra số điện đã sử dụng. Hai hộ có thể cùng tiêu thụ 100kWh nhưng thanh toán khác nhau do đối tượng áp giá hoặc định mức không giống nhau.
Nếu phát hiện chênh lệch, gia đình nên đối chiếu các thông tin trên hóa đơn trước, sau đó liên hệ đơn vị điện lực quản lý hợp đồng khi cần làm rõ. Việc cung cấp đúng mã khách hàng và kỳ thanh toán sẽ giúp xác định trường hợp cụ thể.
Trong sinh hoạt hằng ngày, sử dụng điện hợp lý cũng giúp gia đình chủ động kiểm soát lượng tiêu thụ. Những thiết bị như máy lạnh, bình nước nóng hoặc thiết bị làm mát nên được vận hành phù hợp nhu cầu, tránh bật liên tục khi không cần thiết.
Bên cạnh việc dự trù chi phí điện, mọi người có thể Theo Dõi Lịch Cúp Điện Hôm Nay để biết trước những thay đổi về cung cấp điện tại khu vực sinh sống và sắp xếp công việc trong gia đình.
Với người dân ở Quảng Ninh, việc Tra Cứu Lịch Cúp Điện Quảng Ninh giúp chủ động chuẩn bị khi có thông báo tạm ngừng cung cấp điện theo kế hoạch.
Cần hiểu rằng lịch cúp điện không quyết định đơn giá điện sinh hoạt. Số tiền phải trả vẫn dựa trên lượng điện thực tế được ghi nhận, biểu giá áp dụng và các điều kiện tính tiền của hợp đồng.
Khi khu vực có thông báo điều chỉnh lịch cung cấp điện, người dân có thể kiểm tra Lịch Cắt Điện Quảng Ninh để bố trí thời gian sử dụng các thiết bị cần thiết, đặc biệt với những công việc phụ thuộc vào nguồn điện liên tục.
Với mức tiêu thụ 100 số, điều đáng chú ý nhất khi thanh toán là kiểm tra đúng sản lượng, đúng định mức và đúng thuế suất. Khi các điều kiện này khớp với trường hợp một hộ dùng điện sinh hoạt thông thường, số tiền 217.836 đồng là căn cứ cụ thể để gia đình đối chiếu hóa đơn.
Với một hộ sử dụng điện sinh hoạt thông thường, tổng chi phí cho 100kWh là 217.836 đồng, đã gồm VAT 8% theo biểu giá được trình bày. Lịch Cúp Điện khuyên bà con kiểm tra đúng sản lượng, định mức bậc thang, kỳ ghi chỉ số và thuế suất để tránh nhầm lẫn khi đối chiếu hóa đơn. Nếu còn thắc mắc 100 số điện bao nhiêu tiền khi giá điện thay đổi, bạn có thể cập nhật thêm thông tin tại mục Tin Tức.


